Ông Trần Bá Dương, Chủ tịch ô tô Trường Hải: “Thất bại là mẹ thành công” chỉ có tính khích lệ tinh thần thôi, đừng tin…

3 Th4

“Đối với tôi, những câu nói hay về thất bại chỉ mang tính khích lệ tinh thần, còn về mặt kinh tế, không nên thất bại” – doanh nhân Trần Bá Dương chia sẻ bên lề Lễ công bố chương trình truyền hình “Quốc gia khởi nghiệp” chiều tối ngày 3/4.

Khởi nghiệp đối với của ông Trần Bá Dương là một khái niệm rất rộng và hàm chứa sự khuyến khích chứ không bị bó gọn với định nghĩa bắt đầu nghiệp kinh doanh. Bởi lẽ, vị doanh nhân này hiểu một cách thực tế: “Việt Nam chúng ta có xuất phát điểm thấp nên cần phải khơi dậy tinh thần khởi nghiệp ở tính đại chúng”.

“Quan điểm của tôi về khởi nghiệp là lập thân lập nghiệp về kinh doanh. Một doanh nghiệp mở rộng quy mô, mở rộng ngành nghề cũng là khởi nghiệp. Cá nhân trong doanh nghiệp bắt đầu lãnh đạo công ty trên cương vị mới cũng được coi là khởi nghiệp… Đối với doanh nhân, đất nước, nền kinh tế hay một công ty lớn, khuyến khích khởi nghiệp là điều tất yếu”, ông Trần Bá Dương chia sẻ.

Chính vì thế, vị doanh nhân này cũng bày tỏ quan điểm, khởi nghiệp… đừng để “thất bại” cho dù bấy lâu nay, người ta đã quá quen thuộc với ý nghĩ, “thất bại trong khởi nghiệp, có sao đâu, làm lại thôi”.

“Những thiệt hại về tài chính của một cá nhân, doanh nghiệp nào đó, suy cho cùng cũng là thiệt hại chung của nền kinh tế. Tôi rất quan tâm vấn đề làm sao từ các ý tưởng có thể triển khai được nó như các dự án kinh doanh”, ông Trần Bá Dương nói.

“Chúng ta cố gắng hạn chế tối đa thất bại. Đối với tôi, những câu nói hay về thất bại chỉ mang tính khích lệ thôi, còn về mặt kinh tế, không nên thất bại…”, ông nói thêm.

Do đó, nhằm hỗ trợ cho hoạt động khởi nghiệp, đặc biệt hướng đến giới trẻ, phía công ty Trường Hải đã tham gia đóng góp cho quỹ khởi nghiệp của Trung ương Đoàn với ngân sách là 200 tỷ trong 5 năm, từ năm 2016 – 2021.

“3 lĩnh vực mà chúng tôi đặc biệt quan tâm là công nghiệp phụ trợ, nông nghiệp và du lịch. Nếu các dự án đưa ra khả thi, chúng tôi sẽ tham gia và cố gắng xây dựng chúng như các dự án kinh doanh”, ông Trần Bá Dương nói.

Chia sẻ thêm về việc quyết định đầu tư vào khởi nghiệp, ông chủ Thaco cũng rất thẳng thắn khi cho biết bên cạnh mục đích ủng hộ cho phong trào của đất nước, đấy còn là vì chính bản thân của sự phát triển công ty. Bởi lẽ, từ thực tiễn cho thấy ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn rất yếu, rất cần sự xuất hiện của những công ty mới với đam mê, sáng tạo và chuyên môn cao.

“Chúng tôi thấy rằng với quy mô của Trường Hải như hiện nay muốn phát triển tiếp cũng như có được sự bền vững thì phải có những hệ thống các doanh nghiệp trong cùng 1 lĩnh vực tham gia trong chuỗi giá trị của Trường Hải. Như vậy, không ai khác hơn chính chúng tôi rất cần các doanh nghiệp khởi nghiệp”, Chủ tịch Thaco khẳng định.

Copy: Đức Minh – Theo Trí thức trẻ

Advertisements

Bà Phạm Chi Lan: Đi định cư ở nước ngoài cả, đất nước này ai xây dựng đây?

21 Th4

Theo Diệu Thùy – Infonet

Bà Phạm Chi Lan: Đi định cư ở nước ngoài cả, đất nước này ai xây dựng đây?

“Những người kinh doanh thành công, tài năng thì một số đáng kể lại hướng ra kinh doanh bên ngoài, tìm kiếm cơ hội bên ngoài hơn là trong nước. Thế hệ tương lai nữa, ai cũng muốn ra bên ngoài thì đất nước này ai xây dựng đây”

Mới đây tại Kỳ họp Quốc hội, đại biểu Trương Trọng Nghĩa đã phát biểu “Tại sao trí thức giỏi không về nước làm việc, doanh nhân giỏi muốn bỏ nước ra đi? Tại sao cán bộ về hưu hay đương chức tìm cách cho mình hay con cháu mình ra định cư ở nước ngoài?”

Theo ĐB Trương Trọng Nghĩa, không phải vì đất nước nghèo mà vì họ cảm thấy không vui, không an toàn về pháp lý…

Đồng tình với quan điểm trên, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng cho rằng, nguyên nhân chính là người dân cảm thấy kém an toàn. Đó cũng là lý do mà ở Việt Nam, ngày càng nhiều cha mẹ cho con đi du học sớm, độ tuổi học sinh đi du học ngày càng trẻ hóa.

Kém an toàn

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, lẽ ra thu nhập càng cao, cuộc sống ngày càng tốt đẹp thì người ta thích sống ở đất nước mình hơn để tận hưởng những gì đẹp đẽ đang có, cuộc sống có tương lai sáng lạn hơn. Lẽ ra điều kiện sống tốt hơn khiến họ bám trụ nhiều hơn ở đất nước, thích sống ở đất nước hơn nhưng ở đây bên cạnh cải thiện về mức sống, thu nhập, có hàng loạt vấn đề khác nảy sinh làm người ta cảm thấy người ta cảm thấy không hẳn hạnh phúc hơn, an toàn hơn.

“Tôi cho rằng nhân tố cảm thấy kém an toàn là nhân tố chính khiến người Việt rời khỏi Việt Nam”, bà Lan nói.

Phân tích kỹ hơn về điều này, bà Phạm Chi Lan cho biết phản ứng cho con cái đi học sớm thể ngành giáo dục Việt Nam không tạo cho người ta sự hài lòng, an toàn khi giao con em cho nhà trường đào tạo. Cho con đi du học sớm điều quan trọng nhất là muốn cho con được hưởng một nền giáo dục tốt hơn, thành một con người tốt hơn, không chỉ là kiến thức mà còn kỹ năng, biết sống một cách kỷ cương, tôn trọng xã hội…những ý thức đó họ có thể thấy ở một nền giáo dục nước ngoài, đảm bảo tốt hơn giáo dục Việt Nam.

“Ở Việt Nam cách dạy nhồi nhét kiến thức nhiều quá, sức ép ghê quá, những vấn nạn, tiêu cực trong nhà trường…làm phụ huynh không hài lòng, họ muốn cho con em đi sớm”, bà Lan nói.

Bà cho rằng, việc cha mẹ cho con cái đi du học sớm là một điều bất đắc dĩ, không ai muốn bứt con ra khỏi mình sớm.

“Thông thường các gia đình, nếu muốn cho con đi học thì cũng muốn ở tuổi đại học, khi con em ít nhiều đủ lớn, đủ khôn, trưởng thành hơn, yên tâm hơn khi đi học ở nước ngoài chứ con còn nhỏ rất cần sự theo dõi, chăm chút bảo ban của bố mẹ, họ không muốn bứt con ra sớm khỏi mình thế đâu. Phải nói rằng đây là một quyết định đau lòng của mỗi gia đình đó, phải để cho con đi sớm hơn với mong muốn nhận nền giáo dục tốt hơn”.

Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, với nhóm quan chức có tiền cho con đi học nước ngoài thậm chí mua nhà mua cửa bên đó, sống bên đó thì đó là những quan chức ko phải sống bằng tiền lương, đàng hoàng, trong sạch.

“Khi họ có khoản thu nhập không đàng hoàng thì họ có tâm lý nơm nớm sợ, bị lộ thì phải tranh thủ khi còn cơ hội, còn quyền lực cho con ra nước ngoài, mua nhà mà không ai dám nói gì”, bà Lan nói.

Bà cho rằng, nguyên nhân dẫn đến những tình trạng trên là do môi trường kém an toàn: kém an toàn với trẻ nhỏ khi học hành, kém an toàn với những người làm việc đã được sống trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hoặc kém an toàn với những người có lỗi, có vấn đề, sợ sự trừng trị, họ tìm kiếm ở nơi khác mà không ai biết.

Lấy đâu chỗ cho trí tuệ

Còn việc những người trưởng thành, đi nước ngoài rồi không về hoặc không về trong một số năm đầu tiên, theo bà Lan cũng có thể giải thích được.

Một mặt các em muốn ở lại để học, làm việc trong môi trường, kinh nghiệm thực tế chứ không phải ôm một mớ kiến thức từ bên ngoài về mà có thể làm việc được ngay. Đây là nhu cầu chính đáng và rất đáng hoan nghênh.

Một thực tế khác là có nhiều em đã về rồi và thực sự thất vọng với công việc ở nhà dành cho họ. Đây ko chỉ là chuyện lương, thu nhập mà điều quan trọng hơn là cách đối xử với người ta.

“Lúc mới ra trường xong, các em muốn đi làm, muốn cống hiến nhưng bị dội gáo nước lạnh, dồn dập đủ kiểu khác nhau thành những cú sốc nặng. Nhiều cơ quan có tình trạng nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ thì lấy đâu chỗ cho trí tuệ mang về. Thực tế này đã được nói đến rất nhiều diễn đàn nhưng nó vẫn diễn ra, đến các quan chức liên quan hỏi bằng chứng đâu, làm gì có bằng chứng cho những chuyện đó nhưng nó vẫn lù lù diễn ra ở tất cả các nơi”, bà Lan nhấn mạnh.

“Ngay cả khi làm việc trong môi trường tư nhân cũng phải có quan hệ với các tổ chức, cơ quan nhà nước. Khi đụng đến những quan hệ đó là đụng đến những quan hệ thân hữu, hối lộ, đút lót…Khi giao cho các em những công việc phải tiếp xúc với các cơ quan nhà nước để xin giấy phép, việc nọ, việc kia… chắc chắn sẽ làm thất vọng cho những người đã từng học tập, sinh sống ở nước ngoài”, chuyên gia Phạm Chi Lan nói thêm.

Theo bà, những người trẻ giống như một tờ giấy trắng, họ thẳng thắn và khó chấp nhận được những tiêu cực trên. Còn ở Việt Nam sống lâu thành quen, người dân chấp nhận sống chũng với lũ, tham nhũng, nhũng nhiễu…

Phải lấy lại niềm tin

Đáng nói là xu hướng người Việt tìm cách định cư ở nước ngoài ngày càng nhiều. Nó không chỉ thể hiện ở việc du học sinh không trở về nước mà các doanh nhân cũng tìm cách chuyển ra nước ngoài…

Chuyên gia Phạm Chi Lan nói: “Vài năm trở lại đây tôi thấy một vài doanh nghiệp trưởng thành, lớn lên được thì họ lại có xu hướng chân trong, chân ngoài, một phần nhỏ còn ở đất nước, còn một phần khác, tấm lòng của họ, hướng ra thị trường, công việc lâu dài, vốn liếng, cơ hội làm ăn họ tính ra bên ngoài nhiều hơn bên trong”,

“Doanh nghiệp tư nhân đúng là có nhiều trường hợp như vậy, khi họ lớn lên ở mức độ nào đó bị gây khó khăn, buộc phải bán, nhượng cho người này người khác. Họ sợ giống như trước đây bị vỗ béo rồi làm thịt”, bà Lan chỉ ra.

Theo bà, nếu không ngăn cản xu hướng này thì không chỉ là chảy máu chất xám ở những người trẻ mà còn mất cả nguồn vốn, con người, kinh nghiệm kinh doanh, làm ăn.

“Con số báo cáo mới đây của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đưa ra, người Việt gửi 7,3 tỷ USD ra nước ngoài hay hồ sơ Panama, Việt Nam có tổng cộng 92 tỉ USD được chuyển phi pháp từ Việt Nam ra nước ngoài, riêng năm 2015 là hơn 9 tỉ, những cái đó là con số mất mát bằng tiền đo được mà trên đồ thị nó đang ngày càng tăng lên hằng năm, nó thấy rõ xu hướng hiện nay”, bà Lan nhấn mạnh.

Theo bà, chúng ta ưu đãi cho bao nhiêu đầu tư nước ngoài thì cũng chỉ thu được vốn đầu tư cam kết tương đương với số tiền người Việt mất ra bên ngoài. Những nguồn lực có sẵn trong dân thì không khai thác được.

“Nguồn lực kinh doanh cũng vậy, những người kinh doanh thành công, tài năng thì một số đáng kể lại hướng ra kinh doanh bên ngoài, tìm kiếm cơ hội bên ngoài hơn là trong nước. Thế hệ tương lai nữa, ai cũng muốn ra bên ngoài thì đất nước này ai xây dựng đây?”, bà Lan băn khoăn.

Để ngăn cản dịch chuyển này, theo bà điều quan trọng là hệ thống thể chế cần minh bạch, giải trình của nhà nước, chống tham nhũng vì rất nhiều vấn đề bắt nguồn từ tham nhũng, nhóm lợi ích, làm méo mó sự phát triển, gây nên vấn nạn trong giáo dục.

“Sự bảo thủ, trì trệ trong giáo dục bắt nguồn một phần quyền lực như vậy gây ra, họ không muốn thay đổi, dạy những đứa trẻ biết vâng lời, nhồi một đống kiến thức như tụng kinh…trong khi xã hội thay đổi bao nhiêu.

Với kinh doanh tạo môi môi trường minh bạch, cạnh tranh sòng phẳng.

“Chừng nào thay đổi được thì tình trạng đó sẽ thay đổi. Nói cho cùng thì phải tạo được niềm tin cho người dân, mất niềm tin đã quá lớn”, bà Lan nhấn mạnh.

Tầm nhìn vĩ đại của Lý Quang Diệu

23 Th3

By “Thanh Tuấn  – News.Zing”

*** Ông Lý Quang Diệu, người sáng lập đảo quốc Singapore và làm thủ tướng từ 1959 cho đến năm 1990. Năm 1965, khi Singapore tách khỏi Malaysia, GDP nước này chỉ ngang với Chile, Argentina và Mexico. Hiện nay, GDP đầu người của Singapore gấp 4-5 lần các nước Latin đó và là một trong những nước có thu nhập cao nhất thế giới.

Henry Kissinger từng viết Lý Quang Diệu là “một trong những bất cập của lịch sử về sự không tương xứng giữa khả năng của một số lãnh đạo và quy mô sức mạnh của đất nước đó.” Richard Nixon, sếp của Kissinger một thời, thì khẳng định thậm chí nếu ông Lý sống vào thời điểm khác và ở vùng đất khác, ông có thể “đạt tầm thế giới của Churchill, Disraeli, hay Gladstone” (các thủ tướng mang tính lịch sử của nước Anh thời đỉnh cao).***Ly Quang Dieu - Lee Kuan Yew

Ngày 23/03 là ngày kỷ niệm một năm ngày ông Lý Quang Diệu từ trần. Tư duy và tầm tư tưởng của vị thủ tướng sáng lập Singapore vẫn là điều mà nhiều nước châu Á hướng tới và học tập.

Cuộc chia sẻ của ông Lý với Fareed Zakaria, nhà báo nổi tiếng của Time Magazine và CNN trên Foreign Affairs cách đây 20 năm vẫn cho ta thấy những tư duy sắc sảo của chính trị gia hàng đầu châu Á trong suốt thế kỷ 20 này.

– Ông không coi nước Mỹ như là mô hình cho các nước khác.

Lý Quang Diệu: Là một người Đông Á nhìn vào nước Mỹ, tôi thấy cả những nét hấp dẫn và không hấp dẫn. Ví dụ, tôi thích mối quan hệ tự do, thoải mái và mở giữa mọi người bất chấp địa vị xã hội, sắc tộc và tôn giáo. Và những điều tôi luôn ngưỡng mộ nước Mỹ là độ cởi mở nhất định trong tranh luận cái gì là tốt, là xấu đối với xã hội; trách nhiệm giải trình của quan chức, không có kiểu bí mật và dọa dẫm như một số chế độ.

Nhưng nhìn tổng thể, tôi thấy có những điều không chấp nhận được trong xã hội này: súng ống, thuốc phiện, tội phạm bạo lực, người vô gia cư, các hành vi lố lăng ngoài đường, nói tóm lại là xã hội đổ vỡ. Sự mở rộng quyền tự do cá nhân thích hành động hay phá phách thế nào tuỳ ý gây ra tổn thất với trật tự xã hội.

Ở phương Đông, mục đích chính luôn là trật tự xã hội ổn định để mọi người có thể có hưởng tự do của mình. Sự tự do này chỉ tồn tại trong xã hội ổn định chứ không phải ở đất nước của tranh cãi và vô chính phủ.

Để tôi cho anh ví dụ cho thấy sự khác biệt tổng thể giữa Mỹ và Singapore. Mỹ có vấn đề thuốc phiện nghiêm trọng. Giải quyết nó thế nào? Mỹ đi vòng quanh thế giới giúp các tổ chức chống thuốc phiện để tìm cách ngăn chặn những người cung cấp.

Họ chi tiền cho trực thăng, các chất diệt cây,… và khi bị đối đầu, họ bắt sống tổng thống Panama rồi mang về xét xử ở Florida. Singapore không có lựa chọn đó. Chúng tôi chẳng thể đến Myanmar rồi bắt ông trùm ở đó. Điều chúng tôi làm là cho phép hải quan và cảnh sát nếu thấy ai đó nghi ngờ phê thuốc là lập tức yêu cầu anh ta thử nước tiểu.

Nếu nước tiểu dương tính, anh ta phải đi cai nghiện ngay. Ở Mỹ anh làm vậy thì bị coi là xâm phạm quyền tự do cá nhân và bị kiện ngay tức khắc.

Quyền cá nhân ở Mỹ được coi là bất khả xâm phạm. Nhưng chẳng ai quan tâm khi quân đội đến và bắt tổng thống của một nước khác rồi đưa đến Florida và ném ông ta vào tù. Tôi chẳng thể nào hiểu được.

– Công bằng mà nói 25 năm trước ông ngưỡng mộ nước Mỹ. Vậy theo ông, chuyện gì đã xấu đi?

– Đúng, mọi thứ thay đổi. Tôi mạo muội nói là đó sự xói mòn cơ sở đạo đức của xã hội và sự mất đi trách nhiệm cá nhân. Truyền thống tự do, tri thức mà phát triển sau Chiến tranh Thế giới II cho rằng con người đã đến trạng thái hoàn hảo mà mọi thứ sẽ tốt hơn nếu con người thích làm gì thì làm. Thực tế thì chuyện đó không đúng. Có những điều cơ bản về con người mà sẽ không bao giờ thay đổi.

Con người cần những ý thức đạo đức nhất định về đúng và sai. Có những thứ là xấu xa. Anh đơn giản là xấu xa, dễ làm những việc xấu và phải chặn anh không làm những việc xấu vậy. Người phương Tây từ bỏ những nền tảng đạo đức của xã hội, tin rằng mọi vấn đề có thể giải quyết bằng một chính phủ tốt – đây là điều mà phương Đông chúng tôi không bao giờ tin.

Mô hình châu Á

– Ông nói điều ông lo lắng thật sự là không nên áp đặt hệ thống của các nơi khác vào hệ thống này vì nó sẽ không hiệu quả được. Có mô hình nào mà khả dĩ cho phát triển cả về chính trị và kinh tế? Có cái gọi là mô hình châu Á?

– Tôi không nghĩ là có mô hình châu Á như vậy. Nhưng xã hội châu Á khác xã hội phương Tây. Có sự khác biệt cơ bản giữa tư duy phương Tây và tư duy Đông Á về xã hội và chính phủ. Khi nói Đông Á tôi nói Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam vốn là sự pha trộn giữa văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ.

Xã hội phương Đông tin rằng cá nhân tồn tại trong khuôn khổ gia đình. Anh ta không tách rời ra bối cảnh đó. Gia đình là một phần của gia đình rộng lớn hơn, rồi bạn bè rồi xã hội. Người lãnh đạo hay chính quyền không cố cung cấp cho cá nhân những gì mà gia đình có thể.

Ở phương Tây, đặc biệt sau Chiến tranh Thế giới II, chính phủ được coi là quá thành công mà nó có thể hoàn tất mọi trách nhiệm mà vốn ở các xã hội kém hiện đại hơn, điều đó thường được thực hiện bởi gia đình. Cách tiếp cận này khuyến khích các loại hình gia đình mới, như bà mẹ đơn thân chẳng hạn, tin rằng chính phủ có thể hỗ trợ thay cho người bố vắng mặt.

Đó là sự táo bạo lớn. Cách mà tôi người Đông Á sẽ tránh. Tôi sẽ không dám thử nghiệm vậy. Tôi không chắc hậu quả là gì và tôi không thích những hậu quả mà tôi thấy ở phương Tây. Anh sẽ thấy quan điểm này được chia sẻ rộng khắp ở Đông Á. Không phải là chúng tôi không có các bà mẹ đơn thân ở đây.

Chúng tôi cũng rơi vào thách thức khi chúng tôi giáo dục phụ nữ, họ độc lập hơn về tài chính và họ không còn chấp nhận những cuộc hôn nhân không hạnh phúc nữa. Có sự lo lắng lớn khi chúng tôi có những thay đổi này, đặc biệt là gia đình. Đó là những viên gạch của xã hội.

Có câu thành ngữ của Trung Quốc khái quát vấn đề này: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tu thân nghĩa là tự lo bản thân, tự rèn luyện, làm mọi việc để mình trở nên có ích; tề gia là lo lắng cho gia đình; trị quốc là lo lắng cho đất nước; bình thiên hạ là tất cả dưới bầu trời đều thái bình. Đó là quan niệm cơ bản của văn minh chúng tôi. Chính quyền lên rồi chính quyền xuống, nhưng quan điểm này vẫn duy trì. Chúng tôi bắt đầu bằng sự tự túc của bản thân.

– Ông sẽ làm gì để giải quyết các vấn đề Mỹ?

– Tôi sẽ làm gì à? Trước hết anh cần một xã hội trật tự. Súng ống, thuốc phiện và tội phạm bạo lực tất cả đang đe doạ trật tự xã hội. Rồi trường học, anh có bạo lực trong trường học thì sẽ không thể có giáo dục được, anh cần phải giải quyết vấn đề đó. Rồi anh phải giáo dục quyết liệt để xây dựng một thế hệ những người có kỹ năng, thông minh, uyên bác để làm việc được hiệu quả.

Tôi muốn bắt đầu với những điều đơn giản, làm việc với cá nhân, nhìn anh ta trong bối cảnh gia đình, bạn bè và xã hội anh ta. Nhưng những người phương Tây thì nói tôi sẽ giải quyết vấn đề từ trên. Một công thức màu nhiệm, một kế hoạch lớn. Tôi sẽ vẫy chiếc đũa thần và mọi thứ sẽ tự giải quyết. Đó là lý thuyết thú vị nhưng chưa thể hiện được.

Trở về với cơ bản

– Ông không tin khả năng chính quyền giải quyết được các vấn đề nghiêm trọng của xã hội nhưng ông lại tin tưởng rằng chính quyền có thể thúc đẩy kinh tế và phát triển công nghệ. Đó có phải là sự mâu thuẫn không?

– Không. Chúng tôi tập trung vào các vấn đề cơ bản ở Singapore. Chúng tôi dùng gia đình để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tính toán cái mong muốn của mỗi người và gia đình anh ta vào kế hoạch của chúng tôi. Ví dụ, chúng tôi đã giúp cải thiện được trẻ rất nhiều nhờ giáo dục. Chính phủ có thể tạo ra môi trường để mọi người có thể sống hạnh phúc, thành công và có thể thể hiện mình.

Nhưng cuối cùng thì chính những gì họ làm với cuộc đời họ thì sẽ quyết định sự thành công hay thất bại về mặt kinh tế (của họ). Mặt nữa, chúng tôi may mắn là chúng tôi có văn hoá là niềm tin vào sự tiết kiệm, làm việc chăm chỉ, kính trọng cha mẹ, tôn kính gia đình mở rộng, và, trên hết, là tôn trọng trí thức và sự học.

Đương nhiên có nguyên nhân khác nữa cho thành công của chúng tôi. Chúng tôi có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế vì chúng tôi tạo điều kiện cho những thay đổi nhất định khi chúng tôi di chuyển từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp. Chúng tôi có lợi thế là biết kết quả nó thế nào khi nhìn vào phương Tây và Nhật Bản.

Chúng tôi biết mình đang ở đâu và biết là mình đi đến đâu. Chúng tôi tự nhủ, “phải nhanh lên, phải xem có thể đến đó nhanh hơn”. Nhưng rất nhanh chúng tôi đối mặt với tình huống khác. Trong tương lai gần, chúng tôi sẽ đạt trình độ như Nhật Bản thì khi đó chúng tôi sẽ đi đâu tiếp. Làm sao chúng tôi có thể tăng tốc khi không biết là mình sẽ đi đến đâu. Đó là tình huống mới.

– Một số người nói rằng mô hình châu Á quá cứng nhắc để có thể thay đổi. Mô hình kiểu Mỹ thì rất linh động, để tự do buôn bán và thường xuyên thích nghi để phù hợp với thay đổi hơn là mô hình chính sách do chính quyền định hướng và hệ thống giá trị kiểu đạo Khổng.

– Đó là triết lý sống lạc quan và hấp dẫn, và tôi hy vọng nó thành sự thật. Nhưng nếu anh nhìn các xã hội qua cả ngàn năm thì anh sẽ thấy những mô thức căn bản. Nền văn minh Mỹ xuất phát tổ tiên những người hành hương, mô thức xã hội của họ là sự lạc quan và phát triển của chính phủ một cách tuần tự.

Lịch sử của Trung Quốc là của các triều đại mà lên xuống theo sự mở rộng, suy sụp của các xã hội. Và qua tất cả thăng trầm đó, gia đình, gia đình mở rộng, các họ hàng, giống như là cái bè cứu sinh của cá nhân. Các nền văn minh đã sụp đổ, các triều đại đã bị cuốn đi bởi các nhóm chinh phục khác nhau nhưng cái bè cứu sinh này đảm bảo cho nền văn minh tiếp tục duy trì và đi tới giai đoạn mới.

Không ai ở xã hội phương Đông tin rằng chính phủ có thể cung cấp tất cả. Chính chính phủ cũng không tin là vậy. Trong cuộc khủng hoảng kinh hoàng nhất, kể cả trong động đất và gió bão, thì chính các liên hệ con người sẽ giúp bạn vượt qua.

Nên quan điểm mà bạn nói rằng chính phủ luôn có khả năng tự làm mới mình trong các dạng thức mới thực tế chưa có trong lịch sử. Nhưng gia đình và cách thức con người liên hệ thì có cấu trúc và nó có thể giúp tăng cơ hội tồn tại của các thành viên của nó. Điều đó đã được thử thách qua cả ngàn năm và trong nhiều tình huống khác nhau.

Văn hóa thành công

– Một yếu tố quan trọng của thành công kinh tế quốc gia trong quá khứ là văn hoá sáng tạo và thử nghiệm. Ở các nước Đông Á, tuy nhiên chính quyền thường ngần ngại trước môi trường tự do tư tưởng này. Điều này có ảnh hưởng gì tới hiệu suất của nền kinh tế?

– Về mặt học thuật, điều đó nghe có vẻ như là kết luận hợp lý nhưng tôi không chắc mọi thứ diễn ra vậy. Người Nhật chẳng hạn không hề kém trong chuyện tạo ra các sản phẩm mới. Tôi nghĩ các chính phủ nếu hiểu lý thuyết này và biết nhu cầu về việc thử nghiệm các lĩnh vực mới, phá vỡ các khuôn khổ hiện tại, họ có thể đảo ngược xu thế (giảm năng suất).

Người Đông Á, tất cả đều có chung tính kỉ luật rất cao, tôn trọng thày giáo, không nói lại với thày và thường học gạo, cần phải hiểu có nhu cầu tìm kiếm kiến thức như này để có công nghệ và sản phẩm mới. Dù thế nào, trong thế giới mà liên lạc điện tử giờ là ngày tức khắc, tôi không thấy cảnh mọi người tụt hậu phía sau. Bất cứ thứ gì mới đều cũng lan đi rất nhanh, dù đó là công nghệ siêu dẫn hay là lối sống mới.

– Ông có đồng ý với báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) về thành công của kinh tế Đông Á mà theo tôi hiểu họ kết luận rằng tất cả các chính phủ thành công với các chính sách cơ bản, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, giữ lạm phát thấp, có nền giáo dục chất lượng cao…

– Tôi nghĩ WB có công việc rất khó. Họ phải viết những báo cáo rất phức tạp kiểu vậy. Nhưng có những yếu tố văn hoá mà rất ít được đề cập trong khi nó đáng được để ý hơn. Điều đó sẽ cho báo cáo có chiều sâu hơn và không bị chung chung chung vậy. Và như vậy thì báo cáo sẽ chính xác hơn, ví dụ để giải thích sự khác biệt giữa Philippines với Đài Loan chẳng hạn.

– Nếu văn hoá quan trọng vậy, thì những nước có văn hoá rất khác có thể sẽ không thành công như các nước Đông Á? Ông không hy vọng gì về các nước trên thế giới đang tự do hoá nền kinh tế của họ?

– Việc làm đúng những chính sách cơ bản có thể giúp, nhưng các xã hội khác sẽ không thể thành công như Đông Á vì họ thiếu những động lực nhất định. Nếu anh có nền văn hoá mà không chú trọng vào việc học, vào tri thức, chăm chỉ, vào tiết kiệm, hạn chế vui chơi để phấn đấu cho tương lai thì sự tiến bộ sẽ chậm hơn nhiều.

Nhưng anh biết đấy, các kết luận của WB là một phần của văn hoá Mỹ, và phần nào đó là của các tổ chức quốc tế. Họ phải đưa ra những kết luận kiểu rất nhạt nhẽo và chung chung, mà tôi thấy không hài lòng vì nó chẳng giải quyết các vấn đề thực. Nó đưa ra những giả thuyết hi vọng rằng tất cả con người đều bình đẳng, mọi người trên thế giới đều như nhau.

Nhưng điều đó không đúng. Các nhóm người khác nhau có những tính cách khác nhau khi họ đã tiến hoá cả ngàn năm trong tách biệt. Gen và lịch sử tương tác nhau. Người Da Đỏ Mỹ về mặt gen hoàn toàn giống người Mongoloid của Đông Á, người Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Nhưng một nhóm bị tách biệt ra khi eo biển Bering tách rời. Không có cầu nối cuối cùng đó, họ bị cô lập hoàn toàn ở Bắc Mỹ cả ngàn năm.

Nhóm khác, ở Đông Á, đối mặt liên tiếp với các cuộc xâm chiếm của Trung Á và liên tục tương tác với các nhóm người đi và đến. Hai nhóm này có thể có những tính cách giống nhau nhất định, ví dụ như khi anh đo kích thước não bộ, nhưng khi anh tìm hiểu sẽ thấy ngay là họ khắc nhau, đặc biệt trong sự phát triển về tư duy logic, các giá trị văn hoá.

Nếu anh bỏ qua các vấn đề này vì các lý do chính trị thì tự bản thân anh đặt mình vào bãi mìn rồi. Đây là điều dẫn tới những thất vọng về chính sách xã hội mà vốn bắt đầu ở Mỹ với rất nhiều hào hứng và kỳ vọng nhưng cuối cùng đạt được kết quả rất hạn chế.

Mọi người không muốn nhìn sự vật như thực tế trái khoáy của nó.

– Văn hoá có thể quan trọng nhưng nó có thay đổi. Mô hình châu Á có thể là hiện tượng chuyển giao. Dù gì thì phương Tây cũng trải qua giai đoạn thế kỉ 18-19 mà họ là tư bản và có sự tham gia hạn chế trong nền dân chủ. Giới cầm quyền khi đó cũng lo lắng, giống như ông bây giờ, rằng có “quá nhiều” dân chủ” và có “quá nhiều” quyền cá nhân sẽ làm bất ổn trật tự. Nhưng khi các xã hội đó hiện đại hoá và kinh tế phát triển thì sẽ mở rộng ra các lĩnh vực khác của xã hội, mọi thứ thay đổi. Chẳng phải Đông Á đang thay đổi vì tầng lớp trung lưu mở rộng đòi hỏi có tiếng nói về tương lai của chính họ.

– Có sự thay đổi đột ngột ở Đông Á. Chúng tôi là các xã hội nông nghiệp và công nghiệp hóa chỉ trong 1-2 thế hệ. Những gì diễn ra ở phương Tây trong hơn 200 năm thì giờ diễn ra ở đây chỉ trong chưa đến 50 năm. Tất cả mọi thứ dồn nén và xung đột trong khoảng thời gian cực ngắn nên sẽ có những bất cập và sai sót.

Nếu anh nhìn các nước đang phát triển nhanh, Hàn Quốc, Thái Lan, Hong Kong Và Singapore, có một hiện tượng đáng kinh ngạc: sự trỗi dậy của tôn giáo. Người Hàn Quốc đã theo đạo Cơ Đốc với số lượng lớn – tôi nghĩ phải đến hơn 24%. Và đây là đất nước mà chưa bao giờ bị một nước Cơ Đốc nào chiếm làm thuộc địa cả. Các truyền thống và tôn giáo cũ, thờ cúng tổn tiên, gọi hồn, không còn làm mọi người hài lòng nữa.

Có mong muốn tìm những giải thích cao hơn về mục đích của con người, tại sao chúng ta ở đây. Điều này thường diễn ra trong các giai đoạn mà xã hội có nhiều căng thẳng. Anh sẽ thấy nước Nhật cứ mỗi lần qua giai đoạn khó khăn thì sẽ có những nhóm tôn giáo mới xuất hiện và lan rộng…

Chúng ta đang trong giai đoạn thay đổi rất nhanh và cùng lúc chúng ta cùng hướng tới một mục tiêu mà chúng ta hi vọng có gắn kết với quá khứ của chúng ta.

– Nhưng chẳng nhẽ những thay đổi kinh tế công nghệ không thể tạo ra thay đổi trong đầu óc con người?

– Đó không chỉ những là đầu óc cần thay đổi mà cả những hệ thống giá trị. Để tôi kể chuyện này. Rất nhiều gia đình người Hoa ở Malaysia đã di cư trong giai đoạn căng thẳng khi có các cuộc bạo loạn sắc tộc hồi những năm 1960 để chuyển sang sống ở Úc và Canada. Họ làm vậy vì con cháu với hi vọng họ có nền giáo dục tốt hơn bằng tiếng Anh khi Malaysia chuyển ngôn ngữ chính của mình sang tiếng Malay.

Những đứa trẻ lớn lên, đến tuổi thanh niên và rời nhà. Rồi đột ngột cha mẹ thấy sự trống trải (khi con rời đi). Họ cho con cái nền giáo dục hiện đại bằng tiếng Anh và cùng lúc đó thì mất luôn con cái mình. Đó là trải nghiệm rất sốc.

Ở Singapore cũng có những thay đổi vậy nhưng ít kịch tính hơn. Chúng tôi đang nuôi con cái trong hoàn cảnh khác so với thời chúng tôi lớn lên.

– Ông vẫn nói kiến thức, lối sống và văn hoá lan truyền rất nhanh trong thế giới này. Chả nhẽ ý tưởng về dân chủ quyền con người lại không lan truyền?

– Không nên tranh luận về mặt ngữ nghĩa đó. Hệ thống chính phủ ở Trung Quốc sẽ thay đổi. Ở Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam cũng sẽ có thay đổi. Thay đổi cũng đang diễn ra ở Singapore. Nhưng kết cục thì họ cũng sẽ không thành hệ thống kiểu Mỹ, Anh Pháp hay Đức.

Chúng tôi đang tìm kiếm gì? Một dạng chính phủ mà thuận tiện, vì nó đáp ứng nhu cầu của chúng tôi, không mang tính đàn áp và tối đa hoá cơ hội. Và dù anh có mỗi người một lá phiếu, hay một số người một lá phiếu,… Tôi thì không tin hoàn toàn mỗi người một lá phiếu là tốt. Chúng tôi làm điều đó vì đó là thứ người Anh áp đặt lại và chúng tôi chưa thấy nhu cầu để thay đổi điều đó.

Về cá nhân thì tôi tin rằng, chúng ta sẽ có hệ thống tốt hơn nếu chúng ta cho tấ cả những người trên 40 tuổi và có gia đình hai lá phiếu vì lúc đó anh ta cẩn trọng hơn và việc bỏ phiếu cũng vì con cái anh ta. Anh ta sẽ cẩn trọng bỏ phiếu hơn là những chàng trai trẻ dưới 30 tuổi mà chẳng biết gì.

Nhưng chúng tôi chưa thấy thay đổi là cần thiết. Nếu nó cần thiết chúng tôi sẽ làm điều đó. Rồi cùng lúc, khi một người đã trên 65, khi đó chúng ta lại có vấn đề. Tuổi lý tưởng là từ 40-60, và đến 60 tuổi thì họ nên quay trở lại 1 phiếu. Nhưng làm vậy thì sẽ rất khó để sắp xếp.

Xung đột giữa các cường quốc hủy hoại thế giới

– Phương Tây không chỉ là nơi tạo ra thịnh vượng lớn nhất cho thế giới trong suốt 4 thế kỷ qua, nó đồng thời là nơi sản sinh ra nhiều cuộc chiến nhất. Ngày nay Đông Á là nơi tập trung của tăng trưởng nhanh và một loạt các cường quốc mới cạnh nhau. Với những hệ thống chính trị khác nhau, những thù hằn từ lịch sử, cạnh tranh lãnh thổ và lượng vũ khí ngày càng nhiều. Liệu quá khứ của châu Âu có trở thành tương lai của Đông Á?

– Không, vậy thì đơn giản quá. Đây là một phỏng đoán của tôi, một lý do tại sao mà tăng trưởng ở Đông Á kéo dài trong nhiều năm hơn là vì con người và chính phủ Đông Á đã học được những bài học lớn về sự tàn khốc của chiến tranh.

Không phải các cuộc chiến toàn diện như ở Hàn Quốc mà chiến tranh du kích ở Việt Nam, ở Campuchia, ở các cánh rừng ở Malaysia, Thái, Indonesia và Philippines. Chúng tôi biết rằng càng tham chiến nhiều thì anh càng nghèo và kiệt quệ. Ở các nước chiến tranh: thế giới cứ lướt đi qua họ. Đó là bài học mà sẽ còn có ý nghĩa rất lâu, ít nhất là với thế hệ này.

– Một trong những yếu tố gây bất ổn nhất đối với hệ thống thế giới chính là sự vươn lên của một siêu cường mới. Liệu sự vươn lên của Trung Quốc có thích nghi được vào trật tự của Đông Á?

– Tôi không nghĩ chúng ta có thể nói chỉ về trật tự Đông Á. Câu hỏi là: liệu thế giới có phát triển được hệ thống mà một nước quy mô như Trung Quốc có thể tham gia vào hệ thống điều hành hoà bình và ổn định thế giới? Khoảng 20-30 năm tới, tôi nghĩ các cường quốc lớn sẽ phải thống nhất với nhau về cách kiểm soát hoà bình và ổn định, làm thế nào để tạo trật tự mà vừa hợp lý và vừa công bằng.

Chiến tranh giữa các nước nhỏ không huỷ hoại cả thế giới mà chỉ huỷ hoại chính họ mà thôi. Nhưng xung đột lớn giữa các cường quốc sẽ huỷ hoại thế giới rất nhiều lần. Đó là những điều quá nguy hại và không nên nghĩ đến.

Tôi vẫn nghĩ con đường tiến lên tốt nhất là qua Liên Hợp Quốc. Nó không hoàn hảo nhưng có gì thay thế không?

– Có gì mâu thuẫn giữa vai trò ông là chính trị gia và vai trò mới như là học giả và bình luận trên mọi vấn đề? Là chính trị gia thì ông mong nước Mỹ là điểm cân bằng lớn cho khu vực, một đất nước được kính sợ trên toàn thế giới. Là học giả, thì ông chỉ trích mô hình Mỹ rất nhiều và có vẻ như là làm ảnh hưởng rất nhiều uy tín của nước Mỹ.

– Điều đó là lố bịch. Tôi không bao giờ muốn hạ thấp uy tín nước Mỹ. Nước Mỹ có vai trò đặc biệt trong lịch sử thế giới. Là siêu cường duy nhất, với vũ khí hạt nhân và là chính phủ duy nhất không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh trong khi các nước khác trong tro tàn. Bất cứ đế quốc cũ nào cũng sẽ cố duy trì khả năng chi phối của mình càng lâu càng tốt.

Nhưng nước Mỹ ngay từ đầu đã buộc các đối thủ của mình phục tùng, tạo ra các thay đổi công nghệ rồi chuyển giao các công nghệ này tự do và hào phóng cho châu Âu và người Nhật, tạo điều kiện để 30 năm sau họ thách thức lại chính nước Mỹ. Rồi tới 1975 thì nước Mỹ lại suy sụp. Đó cũng là chưa từng có trong lịch sử. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là chúng tôi ngưỡng mộ tất cả những gì về nước Mỹ.

Tôi nói thẳng này: nếu không có những điểm tốt mà phương Tây hướng dẫn, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ thoát được lạc hậu. Chúng tôi sẽ vẫn là nền kinh tế lạc hậu trong xã hội lạc hậu. Nhưng chúng tôi chẳng muốn tất cả như phương Tây.

 The End.

Lý Quang Diệu luận thế giới: “Nhân chi sơ, tính bản ác…”

24 Th3

http://soha.vn/quoc-te/ly-quang-dieu-luan-the-gioi-nhan-chi-so-tinh-ban-ac-20150324201426427.htm

“Khung cảnh tại Sri Temasek đêm nay. Đây là nơi ở chính thức của Thủ tướng. Tôi chưa bao giờ ở đây, nhưng căn nhà này là nơi cha mẹ tôi nhiều đêm quây quần cùng con cháu. Ngày mai, linh cữu cha tôi sẽ rời Sri Temasek lần cuối.”

(Ảnh và lời dẫn của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long)

Hình ảnh

Baby

29 Th11

Baby

Beauty

Hình ảnh

TTCN Wedding

29 Th11

TTCN Wedding

Forever Restaurant
Nguyen Thong Str, Dict 3, HCMC

Hình ảnh

20-11-2012 – 6

21 Th11

20-11-2012 - 6

Nhà cô Tuyết Anh
Kỳ Đồng, Q3, TPHCM